Góc tư vấn

Luật sư Tư vấn về việc chấm dứt hợp động lao động trái luật

24/09/2019

Công ty Luật DRAGON tư vấn pháp luật liên quan tới việc chấm dứt hợp đồng lao động trái luật của người sử dụng lao động

Câu hỏi: Tôi là Phương. Tôi cần được tư vấn về dịch vụ giải quyết  tranh chấp trong trường hợp bị sa thải đột ngột, không có lý do chính đáng, không được làm hợp động lao động sau 5 tháng làm việc. Tôi không biết bắt đầu từ đâu, mong nhận được tư vấn từ Luật Dragon
Xin chân thành cảm ơn!
Trả lời:
Công ty Luật TNHH Dragon xin gửi lời chào trân trọng tới Quý khách hàng!
Phúc đáp yêu cầu tư vấn pháp luật của Quý khách liên quan đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động, chúng tôi có ý kiến như sau:
Vì bạn không nói rõ loại hình hợp đồng lao động mà bạn đã được kí kết. Do vậy, chúng tôi xin phép được tư vấn các trường hợp như sau:
Bộ Luật Lao động quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của chủ sử dụng lao động như sau:
“Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:
  1. Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;
  2. Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;
  1.  Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
  2.  Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.
2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:
a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”
Do thông tin chị cung chưa cụ thể, rõ ràng, nên chúng tôi không có cơ sở để nhận định. Do vậy, chị cần đối chiếu trường hợp cụ thể của công ty để xác định được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của mình.
Nếu rơi vào một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 38 BLLĐ thì NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải tuân thủ về thời gian báo trươc quy định tại khoản 2 Điều 38. Nếu không thuộc các trường hợp trên mà NSDLĐ chấm dứt HĐLĐ với NLĐ thì được xem là trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Trường hợp, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì NSDLĐ có các nghĩa vụ sau:
1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước. (Điều 42 BLLĐ 2012)
Nếu NSDLĐ không thực hiện các yêu cầu trên, chị yêu cầu chủ sử dụng lao động thực hiện; nếu không thực hiện chị có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết.
Trên đây là một số ý kiến pháp lý của Công ty Luật Dragon về những nội dung mà anh đã đề nghị tư vấn. Để biết thêm thông tin chi tiết bạn có thể liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ dưới đây.
Công ty Luật Dragon trân trọng cảm ơn!
Tên tổ chức:              CÔNG TY LUẬT TNHH DRAGON
Đại diện:                   LUẬT SƯ NGUYỄN MINH LONGChức vụ: Giám đốc
Điện thoại:                1900.599.979              Fax: 04.3769.0142            Hotline: 0983019109.
Trụ sở chính:            Phòng 6, Tầng 14, Tòa nhà VIMECO, Đường Phạm Hùng, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Website:                     www.luatdragon.vn      Email: dragonlawfirm@gmail.com

Các tin khác

Thành tựu đạt được

Bằng Khen
Bằng Khen
Bằng Khen
Bằng Khen
Bảng vàng vinh danh
Bảng vàng vinh danh

Góc tư vấn

Hình phạt đối với pháp nhân thương mại Hình phạt đối với pháp nhân thương mại
Cũng như đối với người phạm tội, khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS ...