Án phí

Chi phí kiện tranh chấp đất đai?

10/02/2020

Khách hàng hỏi luật sư tư vấn: Khi tôi ra đời, ông bà nội đều đã mất. Lúc đó, anh em bố tôi thỏa thuận chia đều đất hương hỏa. Khi tôi tròn 1 tuổi thì bố tôi cũng qua đời. Sau đó, nhà đất bắt đầu có giá. Năm 2015, các bác, chú tự ý bán mảnh đất được chia của bố và đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà. Nay tôi muốn kiện các bác, chú để đòi lại mảnh đất này. Xin hỏi luật sư, 300 triệu có đủ trang trải chi phí tranh chấp đất không? Liệu tỷ lệ thắng kiện của tôi có cao hay không?

Chân thành cảm ơn!
Trần Văn Đức

Ban tư vấn luật đất đai nhà ở - Luật sư chuyên tranh tụng vụ án đất đai ở Hà Nội trả lời:
Ông nội của anh mất không để lại di chúc nên căn cứ vào Điểm a, Khoản 1, Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, đất của ông sẽ được phân chia thừa kế theo pháp luật. Mặt khác, các bác, chú cũng đã đồng ý về việc chia đất và bố anh cũng đã được nhận phần thừa kế của mình. Vậy nên, việc các chú, bác đuổi mẹ con anh ra khỏi nhà, đồng thời tự ý bán mảnh đất của bố anh sai quy định của pháp luật hiện hành.
Song, vì anh không nêu rõ rằng mảnh đất của bố đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa, do đó chúng tôi chia làm 2 trường hợp để tư vấn. Cụ thể như sau:
Một là, nếu mảnh đất của bố anh đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sau khi gửi đơn khởi kiện, anh phải yêu cầu UBND cấp xã tiến hành hòa giải. Trong trường hợp hòa giải không thành, anh có thể nộp đơn khởi kiện lên TAND huyện theo Khoản 1, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Lưu ý, anh phải đính kèm theo Biên bản hòa giải không thành ở UBND xã.
Hai là, nếu mảnh đất của bố anh chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đó anh có thể lựa chọn một trong 2 hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định tại Khoản 2, Điều 203 Luật Đất đai.
Theo đó, trường hợp tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, đương sự chỉ được chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai như sau:
Thứ nhất, nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Thứ hai, khởi kiện tại TAND có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Theo quy định hiện hành, mức án phí sơ thẩm vụ án đất đai phụ thuộc vào giá trị mảnh đất. Thế nhưng, do anh không nêu rõ giá trị của mảnh đất nên không thể tính được án phí khởi kiện.
Nếu vụ kiện được đưa ra tòa án giải quyết và mảnh đất của bố anh có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như các giấy tờ liên quan hoặc nếu bố anh không có Giấy chứng nhận nhưng anh thu thập được các tài liệu, hồ sơ, nhân chứng chứng minh mảnh đất đó là của bố anh thì việc anh khởi kiện đòi lại mảnh đất của bố anh là hoàn toàn có cơ sở. Đồng thời, tòa án sẽ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mẹ con anh đối với mảnh đất đó.

Điều luật tham khảo: 

Điều 650. Bộ luật dân sự 2015


Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 203 Luật Đất đai năm 2013

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Các tin khác

Thành tựu đạt được

Bằng Khen
Bằng Khen
Bằng Khen
Bằng Khen
Bảng vàng vinh danh
Bảng vàng vinh danh

Luật sư bào chữa

Tin tức nổi bật