1900599979

Hoàn thiện quy định pháp luật về lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài.

Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay bên cạnh các yếu tố tích cực mang lại thì cũng phát sinh nhiều tiêu cực có yếu tố nước ngoài đòi hỏi các quốc gia phải cùng nhau hợp tác, hỗ trợ về nhiều mặt, trong đó có lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự. Để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nước mình trên lãnh thổ nước ngoài và ngược lại công dân nước ngoài trên lãnh thổ của mình về hình sự thì ngoài việc tham gia hoặc ký kết các điều ước quốc tế trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự, mỗi quốc gia còn phải hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước cho phù hợp tình hình thực tế và xu thế của thời đại. Không ngoài xu thế đó thì vấn đề hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài cũng không phải là trường hợp ngoại lệ mà cần xây dựng, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của các cơ quan tố tụng trong thời kỳ mới.

  1. Thực trạng tình hình
Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp, đối tượng quản lý lý lịch tư pháp bao gồm cả công dân Việt Nam bị kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nước ngoài mà trích lục bản án hoặc trích lục án tích của người bị kết án được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại. Thông tin về lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài hiện nay được cung cấp bao gồm các bản án, trích lục bản án, lý lịch tư pháp… đây là một trong những nguồn cung cấp thông tin lý lịch tư pháp quan trọng để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.
Theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp và Luật Lý lịch tư pháp thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan có trách nhiệm làm đầu mối trong việc tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi các thông tin do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp trong đó có các thông tin về lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài cho Bộ Tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Cho đến nay, số lượng thông tin Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận được từ nước ngoài theo con đường tương trợ tư pháp và cung cấp cho Bộ Tư pháp (từ năm 2010) với số lượng gần 6.000 thông tin bao gồm các bản án, trích lục bản án, lý lịch tư pháp…của đối tượng là công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài. Với số lượng trên, Bộ Tư pháp đã tiếp nhận, lập lý lịch tư pháp và đưa vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trên 4.000 bản lý lịch tư pháp theo quy định cho số đối tượng nêu trên. Tuy nhiên, về vấn đề này hiện đang có một số vấn đề nổi lên từ thực tế cần chú ý như sau:
Một là: Hiện nay số lượng các điều ước quốc tế song phương, đa phương về hình sự với nước ngoài mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết rất nhiều (trên 30) nhưng mới chỉ có 6 quốc gia cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp từ năm 2010 đến nay. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia, vũng lãnh thổ có công dân Việt Nam sinh sống rất nhiều nhưng chưa có các điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về hình sự được ký kết, tham gia. Thông tin trao đổi, cung cấp theo nguyên tắc có đi có lại theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về lý lịch tư pháp cũng rất hạn chế, có thể nói là không có. Như vậy, có thể nhận ra là thông tin về công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đã bị tòa án nước ngoài xét xử còn hạn chế, chưa đầy đủ hết được, còn có nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ chưa được cung cấp thông tin.
Nguyên nhân của tình trạng trên thì có nhiều, nhưng nguyên chính là chúng ta chưa tham gia ký kết các điều ước quốc tế về trương trợ tư pháp hình sự được nhiều với các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, thực tế đến nay có trên 4 triệu người Việt Nam đang sinh sống tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới [1] (chúng ta không biết trong số đó có bao nhiêu người còn mang quốc tịch Việt Nam- là công dân Việt Nam), thì dù có cố gắng thế nào chúng ta cũng không thể ký kết điều ước quốc tế với tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ đó được (trừ khi có 1 hiệp ước toàn cầu), nhưng quan trọng hơn là việc các quốc gia thực hiện trao đổi hợp tác thế nào khi đã ký kết, hợp tác, nhất là trong thực tiễn quan hệ quốc tế hiện nay, tùy thuộc vào lý do chính trị, thể chế của mỗi quốc gia khác nhau không phải các quốc gia có thể dễ dàng ký kết với nhau những điều ước quốc tế về hình sự, thì việc để có được đầy đủ, toàn diện các thông tin của các công dân Việt Nam bị các tòa án nước ngoài xét xử trên toàn thế giới thì khó có thể bảo đảm cung cấp được đầy đủ, kịp thời. Mặt khác, khi các quốc gia xét xử công dân Việt Nam phạm tội trên lãnh thổ của quốc gia đó thì chúng ta cũng khó có thể nắm biết được thông tin kịp thời. Thậm chí có nhiều trường hợp ai cũng biết là công dân Việt Nam này đã tòa án nước ngoài xét xử và chịu án tù nhưng do không có thông tin trao đổi chính thức nên không thể cập nhật vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được. Ví dụ, thời gian vừa qua trên các trang mạng xã hội đều có đưa tin trường hợp diễn viên Hồng Quang Minh, ngày 16/12/2016 đã bị Tòa Thượng thẩm California thành phố Westminster, California, Hoa Kỳ xử mức án 18 tháng tù giam nhưng do giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chưa có ký kết điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp và cũng không có việc cung cấp trao đổi theo nguyên tắc có đi có lại cho trường hợp này cho nên không có thông tin cung cấp từ phía Hoa Kỳ cho Việt Nam.
Hai là: Có nhiều tội danh về hình sự mà pháp luật Việt Nam không có nhưng các nước khác lại có và ngược lại hoặc cùng một hành vi phạm tội nhưng pháp luật các nước lại quy định tội danh khác nhau, không tương thích với nhau. Ví dụ: pháp luật hình sự Hoa Kỳ có quy định “Tội phạm khủng bố”. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 ban đầu quy định chỉ 1 tội danh là “Tội khủng bố”, nhưng trong thực tiễn có nhiều động cơ mục đích khác nhau phản ánh tính chất nguy hiểm của hành vi không giống nhau, nên đã sửa đổi điều luật này. Tại Bộ luật hình sự năm 2015 đã được quy định thành Điều 113. “Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”, Điều 299. “Tội khủng bố” và  Điều 300. “Tội tài trợ khủng bố”.
Hoặc một ví dụ khác là tại Cộng hòa Séc tại Điều 204, Bộ luật Hình sự số 40/2009sb có tội danh “Cho trẻ con dùng rượu cồn”, thì Việt Nam ở Bộ luật hình sự năm 2015 không có tội danh này.
Nguyên nhân của tình trạng này là do đặc điểm chính trị, quan điểm cũng như hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về hình sự nói riêng của các nước khác nhau, cho nên pháp luật hình sự của các nước có sự khác biệt, không tương thích, thậm chí xung đột lẫn nhau cả về quy định tội danh cũng như hình phạt chính, hình phạt bổ sung.
Ba là: Qua thực tiễn cho thấy, thông tin của một số quốc gia (Ba Lan và Séc..) cung cấp cho thấy, những hành vi vi phạm chủ yếu của công dân Việt Nam tại một số nước là những vi phạm liên quan đến vi phạm hành chính như vi phạm kiểu dáng hàng hóa, vi phạm đối với tem, thương hiệu và các nhãn hiệu bảo hộ xuất xứ, các biện pháp bổ sung bao gồm: Bồi hoàn tiền, cấm lái xe, tịch thu tài sản, buộc sửa chữa khắc phục hậu quả; về sức khỏe, vi phạm đến quyền lợi người tiêu dùng… Như vậy là Tòa án tại một số nước khi xét xử các hành vi thuộc lĩnh vực về hành chính (theo pháp luật Việt Nam) như đã nêu ở trên, nếu các nước đó có hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam, thì đều thực hiện cung cấp các bản án đã xét xử đối với hành vi vi phạm do công dân Việt Nam thực hiện tại nước đó cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Những bản án này sau khi xét xử đều được cung cấp cho Việt Nam qua con đường tương trợ tư pháp thì vẫn được lập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp.
Trong khi đó, theo quy định tại Điều 2 khoản 1của Luật Lý lịch tư pháp “Lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản” và theo nguyên tắc lý lịch tư pháp chỉ được lập trên cơ sở bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; quyết định của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đã có hiệu lực pháp luật. Trong khi đó, qua thống kê thực tế những thông tin đã nhận được cho thấy, những thông tin lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cung cấp chủ yếu liên quan đến lĩnh vực về hành chính, không thuộc phạm vi quản lý lý lịch tư pháp của Luật Lý lịch tư pháp.
Nguyên nhân của tình trạng này là do luật pháp về lý lịch tư pháp các quốc gia có quan niệm và quan điểm về lý lịch tư pháp khác nhau dẫn đến quy định về phạm vi quản lý lý lịch tư pháp cũng khác nhau. Các quốc gia có quan niệm và quan điểm xây dựng phạm vi quản lý lý lịch tư pháp khác nhau, nhưng nhìn chung trên thế giới có 2 xu hướng quan niệm chính về phạm vi lý lịch tư pháp:
– Thứ nhất: Lý lịch tư pháp chỉ quan tâm tới án tích hình sự của cá nhân. Trong tiếng Anh, thuật ngữ “criminal record” có ý nghĩa tương ứng với “lý lịch tư pháp“, nhưng phản ánh rất rõ ý nghĩa chỉ ghi nhận những án tích hình sự. Đây là quan niệm có thể thấy trong thể chế lý lịch tư pháp của Nhật Bản, Đài Loan v.v.
– Thứ hai: Đối tượng quan tâm của lý lịch tư pháp không bó hẹp trong án tích hình sự, mà còn được mở rộng tới việc ghi nhớ cả những quyết định cấm hoặc tạm ngừng một quyền nào đó (ví dụ: cấm thành lập doanh nghiệp đối với người đã tuyên bố phá sản doanh nghiệp…). Như vậy, phạm vi lý lịch tư pháp theo xu hướng này bao gồm cả những phán quyết của Tòa án về hình sự, dân sự, hành chính. Đại diện cho xu hướng này là thể chế lý lịch tư pháp của Pháp và Đức v.v.
Tuy vậy, cho dù theo xu hướng nào thì hệ thống quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp bao giờ cũng chỉ hướng đến các bản án, quyết định là kết quả của hoạt động xét xử và mục đích của việc quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp bao giờ cũng nhằm trước hết là phục vụ cho hoạt động xét xử nói riêng và hoạt động tố tụng nói chung. Theo pháp luật của nhiều quốc gia, khái niệm lý lịch tư pháp đều đồng nhất với khái niệm lý lịch hình sự, nói cách khác là lý lịch ghi nhớ các phán quyết về hình sự của Toà án đối với người phạm tội. Luật Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện hành được xây dựng và áp dụng theo quan niệm thứ nhất. Chính vì vậy mà khi Việt nam nhận được các thông tin về lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài như các bản án, trích lục bản án, lý lịch tư pháp …của nước ngoài cung cấp thì có rất nhiều các thông tin liên quan đến lĩnh vực hành chính, dân sự…không thuộc phạm vi quản lý của Luật Lý lịch tư pháp.
Bốn là: Ngày nay, tiếng Anh ngày càng phổ biến trong giao dịch quốc tế, vì vậy, một số nước khi xét xử công dân nước ngoài thường có bản án viết bằng tiếng của nước họ đồng thời viết bằng tiếng Anh hoặc tiếng của công dân người nước ngoài bị xử án. Theo quy định thì đối với những tài liệu bằng ngôn ngữ của nước ngoài, thì phải dịch thuật ra tiếng Việt. Trong trường hợp thông tin lý lịch tư pháp viết bằng tiếng Anh và tiếng của quốc gia sở tại thì phải dịch ra tiếng Việt theo đúng quy định. Tuy nhiên, các thông tin về nhân thân như họ, tên, bố, mẹ, quê quán….không có, không rõ ràng, hoặc có giấy tờ cá nhân kèm theo nhưng lại của các quốc gia đó cấp, ví dụ: Số nhận dạng cá nhân (CH Séc)….Nên việc tra cứu sau này rất khó khăn, khó bảo đảm chính xác.
Do các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài cung cấp rất hạn chế về thông tin nhân thân của công dân Việt Nam. Đa số chỉ cung cấp theo lời khai của đương sự cho nên quê quán, cha mẹ,…rất hạn chế, Ví dụ: chỉ ghi là Ha Nam Ninh, Viet Nam, thông tin về bố, mẹ rất hạn chế….Trong khi không kèm theo được ảnh, vân tay. Bên cạnh đó, các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài khi được dịch và chứng thực ra tiếng Việt thì rất khó xác định chính xác được thông tin về nhân thân do có cách viết và cách nhận biết khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Theo tiếng Việt thì viết theo thứ tự từ họ và tên và có dấu nhưng theo tiếng nước ngoài thì lại viết ngược lại và không có dấu. Nhưng theo các bản án, quyết định của Tòa án của nước ngoài thì nhiều khi họ và tên người Việt Nam họ viết rất khó xác định, Ví dụ: Công dân Việt Nam có tên là Nguyễn Trần Hoàng, nhưng theo tiếng nước ngoài thì ghi họ là Nguyen, tên là Tran Hoang. Khó khăn là đối với những tên không có dấu thì đâu là họ, tên thật của đương sự như ví dụ đã nêu và khi tra cứu sẽ rất khó khăn, có thể không tìm ra chính xác người cần tìm.
2. Những bất cập của pháp luật hiện hành về lý lịch tư pháp đối với công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài
Thực tiễn công tác tiếp nhận, lập lý lịch tư pháp cho thấy, việc tham gia ký kết các điều ước quốc tế mới chỉ là bước đầu, tạo nền tảng cho các hoạt động này. Còn việc phối hợp tổ chức thực hiện sao cho hiệu quả lại đòi hỏi mỗi quốc gia có sự tổ chức, phối hợp, phân công phù hợp. Để thực hiện tiếp nhận, lập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp việc khai thác, sử dụng hiệu quả cần qua nhiều giai đoạn, từ tiếp nhận, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam của các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng và thực hiện điều ước quốc tế song phương và đa phương đến phân công, tổ chức thực hiện. Điều này đòi hỏi cần có sự phân công rõ ràng, cụ thể công việc cho các cơ quan có thẩm quyền. Trên thực tế hiện nay tại Việt Nam, các quy định của pháp luật nói chung và Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành nói riêng còn nhiều bất cập, hạn chế cụ thể:
Một là: Cơ sở pháp lý đảm bảo cho hoạt động tiếp nhận, công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của tòa án nước ngoài tại Việt Nam chưa chặt chẽ, đầy đủ, thiếu tính đồng bộ. Về lĩnh vực dân sự thì, theo Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định những bản án, quyết định của tòa án nước ngoài được thi hành là: “Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.” (Điểm d Khoản 1 Điều 482) và dành cả 1 chương – chương XXXVI quy định về trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài.
Như vậy, đối với những bản án, quyết định về dân sự của Tòa án nước ngoài muốn được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phải tuân theo trình tự để Tòa án xem xét, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam (Điều 438) thì lúc này những bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài mới có hiệu lực thi hành trên lãnh thổ Việt Nam. Công dân cũng có quyền yêu cầu Tòa án không công nhận và cho thi hành những bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam.
Về lĩnh vực hình sự thì hiện nay Luật Tương trợ tư pháp và Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng quy định trình tự, thủ tục cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ (Điều 501 Bộ luật Tố tụng Hình sự), chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù (Điều 56 Luật Tương trợ tư pháp). Nhưng tất cả các hoạt động từ chối dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù đều phải qua thủ tục là Tòa án Việt Nam xem xét và quyết định thì thực chất đó là việc thi hành theo phán quyết của tòa án Việt Nam, đó là việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam thì điều đương nhiên là lý lịch tư pháp người đó sẽ được lập, cập nhật theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp cụ thể: “Quyết định của Toà án Việt Nam về việc dẫn độ để thi hành án tại Việt Nam; quyết định của Tòa án Việt Nam về việc tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù” (Khoản 17 Điều 15) là nguồn thông tin lý lịch tư pháp về án tích.
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 5 Luật Lý lịch tư pháp thì đối tượng quản lý lý lịch tư pháp bao gồm: “Công dân Việt Nam bị kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án Việt Nam, Toà án nước ngoài mà trích lục bản án hoặc trích lục án tích của người bị kết án được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.” và cụ thể nguồn thông tin lý lịch tư pháp về án tích theo quy định tại Khoản 16 Điều 15 bao gồm: “Trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại” và theo quy định tại Điều 17 thì: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nhiệm vụ gửi cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia bản sao trích lục bản án, trích lục án tích của công dân Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp….” Như vậy, thông tin về các đối tượng nêu trên chỉ cần được cung cấp qua Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì đã mặc nhiên được được lập lý lịch tư pháp, cập nhật vào sơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và có hiệu lực tại Việt Nam. Tức là được đương nhiên công nhận và cho thi hành bản án, quyết định hình sự của tòa án nước ngoài có hiệu lực đối với công dân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam mà không qua một thủ tục pháp lý nào khác là thiếu chặt chẽ, chưa bảo đảm tính pháp lý, đây là một vấn đề cần nghiên cứu, xem xét lại.
Thông thường tại các quốc gia trên thế giới, việc công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của các Tòa án nước ngoài đã có hiệu lực pháp luật trong lãnh thổ quốc gia đều phải tuân theo một theo một trình tự, thủ tục đặc biệt. Tại một số nước nền lý lịch tư pháp phát triển, đối với công dân nước đó phạm tội tại nước ngoài, thì việc đưa những thông tin án tích của các đối tượng đó chỉ được đưa vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp của nước họ trên cơ sở phù hợp về pháp luật hình sự trong nước. Ví dụ như tại Nauy, nếu công dân của Nauy phạm tội ở nước ngoài, được thông báo thì sẽ gửi thông tin đó tới một Ủy ban tư vấn. Ủy ban này sẽ có nhiệm vụ xem xét, nghiên cứu xem theo pháp luật của Nauy có bị coi là có tội hay không và có phải thực hiện ghi chú vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp của Nauy hay không? Việc thực hiện ghi vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp của Nauy chỉ trong trường hợp tội đó theo pháp luật Na uy là có tội và phải thực hiện ghi chú vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp[2].
Hai là: Theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 26 Luật Lý lịch tư pháp thì, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp lập lý lịch tư pháp trong các trường hợp: “Nhận được bản sao trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân Việt Nam do Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp ..” và cập nhật vào lý lịch tư pháp của đối tượng khi: “ Trường hợp công dân Việt Nam đã có Lý lịch tư pháp mà sau đó có trích lục bản án hoặc trích lục án tích của người đó do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp…” (khoản 2 Điều 32). Như vậy, công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đã bị Tòa án nước ngoài kết án được cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao và được cung cấp tiếp cho Bộ Tư pháp thì đương nhiên được lập Lý lịch tư pháp, cập nhật vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành cho đến nay vẫn chưa có những quy định, hướng dẫn cụ thể về việc xác định trong những trường hợp nào thì lập lý lịch tư pháp, cập nhật vào lý lịch tư pháp đã có trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, trường hợp nào thì không.
Về vấn đề này, theo quy định pháp luật hiện hành của Cộng hòa Liên bang Đức thì, những người Đức phạm tội ở nước ngoài, nếu vẫn còn mang quốc tịch và có hộ khẩu thường trú tại Đức, nếu như tội đó cũng được công nhận tại Đức hoặc tội đó ở cả hai nước đều coi là có tội, thì phải lập lý lịch tư pháp và lưu tại cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Trường hợp tội đó theo quy định của Đức không phải là tội, thì việc ghi vào cơ sở dữ liệu vẫn được thực hiện nhưng ghi chú là không coi là tội và không cung cấp cho các cơ quan khác. Hành vi của công dân Đức bị tòa án nước ngoài kết án cũng có thể bị tòa án Đức áp dụng một hình phạt hoặc một biện pháp tư pháp bắt buộc[2]. Như vậy chúng ta có thể nhận thấy, theo pháp luật về lý lịch tư pháp của Đức và Nauy thì thông tin lý lịch tư pháp của công dân phạm tội ở nước ngoài được cung cấp thì không thể đương nhiên được lập lý lịch tư pháp hoặc cập nhật vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp mà phải qua thủ tục đặc biệt mới được công nhận và chính thức có hiệu lực thi hành trên lãnh thổ và đương nhiên được thực hiện lập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Còn một số trường hợp không được công nhận thì việc ghi vào cơ sở dữ liệu vẫn được thực hiện nhưng ghi chú là không coi là tội và không cung cấp cho các cơ quan khác. Đây là những kinh nghiệm đáng chú ý để chúng ta nghiên cứu để áp dụng cho phù hợp với thực tế Việt Nam.
Ba là: Theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 về xóa án tích hiện nay đang theo hướng: “… nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới …” thì mới đủ điều kiện xóa án tích, trừ trường hợp được xóa án tích theo quyết định của Tòa án. Bộ luật Hình sự cũng như Luật Lý lịch tư pháp hiện nay chưa quy định riêng về điều kiện xóa án tích hay việc thi hành tại Việt Nam của các bản án nước ngoài đối với công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài làm cơ sở xóa án tích cho đối tượng này mà chỉ có quy định chung. Như vậy, thì đối với các đối tượng là công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài mà thong tin được cung cấp theo con đường tương trợ tư pháp hiện hành, sau khi được lập lý lịch tư pháp, cập nhật vào lý lịch tư pháp trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thì điều kiện để xóa án tích cũng phải thực hiện chung theo quy định hiện hành của Bộ luật Hình sự 2015.
Thực tế, các thông tin lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam do nước ngoài cung cấp cho Việt Nam có liên quan đến các hình phạt hình phạt bổ sung (thậm chí cả hình phạt chính) mà tòa án nước ngoài đã tuyên đối với bị cáo: gồm hình phạt tịch thu tiền, tài sản do phạm tội mà có, cấm đảm nhiệm những chức vụ, công việc… đã thi hành hay chưa thi hành, cũng như những điều kiện để thi hành thì các thông tin đa số đều không cung cấp rõ. Nếu đã lập lý lịch tư pháp hoặc cập nhật vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thì các khoản thi hành hình phạt bổ sung đương nhiên cũng phải là điều kiện phải được tiếp tục thi hành theo pháp luật Việt Nam để làm cơ sở xóa án tích. Tuy nhiên, việc tiếp tục được thực hiện thi hành các hình phạt bổ sung ở Việt Nam thì thực hiện thế nào là cả một một vấn đề phức tạp và rất khó thực thi, ví dụ: bản án của Cộng hòa Séc yêu cầu phải thi hành án là nộp phạt bằng tiền của Séc (Koruna Séc-CZK) thì nay thi hành phạt bằng tiền nào (euro hay VNĐ). Nhưng nếu không thi hành thì không đủ cơ sở để làm thủ tục xóa án tích cho họ. Thực tế là trong tất cả các thông tin của phía nước ngoài không yêu cầu phía Việt Nam phải thi hành tiếp các khoản này.
Về vấn đề này, theo kinh nghiệm của một số nước quy định việc thực hiện xóa án tích do Tòa án thực hiện (Pháp, Bỉ, New Zeand…), ở một số nước khác việc thực hiện xóa án tích do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Đức, Italy…) thì, về cơ bản các quốc gia đều quy định trong trường hợp một phán quyết không được ghi vào lý lịch tư pháp theo quy định, thì phán quyết đó được coi là đủ điều kiện để xóa án tích. Về nguyên tắc, thông tin chỉ được xóa khi người có lý lịch tư pháp đã thực hiện xong hết các nghĩa vụ của mình. Thời hạn xóa án tích sẽ được căn cứ theo quy định của pháp luật. Như vậy, việc thực hiện các hình phạt bổ sung đa số các quốc gia đều theo nguyên tắc phải thực hiện tất cả bản án bao gồm cả các nghĩa vụ, hình phạt bổ sung…là điều kiện để được xóa án tích. Tuy nhiên, các đa số các quốc gia cho dù việc xóa án tích do tòa án hay cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu hoặc gồm cả 2 cơ quan (Pháp) thực hiện, thì điều kiện xóa án tích đều được thực hiện trên cơ sở các nghĩa vụ đã được ghi vào lý lịch tư pháp do tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền phán quyết, công nhận và cho thi hành đối với công dân phạm tội ở nước ngoài.
  1. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trong xu hướng mở của, hội nhập quốc tế, việc người nước ngoài nhập cảnh làm ăn, sinh sống tại Việt Nam, trong số đó có những trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam và bị Tòa án Việt Nam xét xử là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, việc quản lý lý lịch tư pháp đối với những đối tượng này như thế nào cần có những quy định cụ thể, chi tiết hơn trong Luật Lý lịch tư pháp. Từ thực tế thực hiện pháp luật lý lịch tư pháp về đối tượng là công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài thời gian qua, chúng tôi mạnh dạn đề xuất sửa Luật Lý lịch tư pháp theo 2 phương án sau:
– Phương án thứ nhất: Các thông tin được tiếp nhận, cập nhật vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thành một phần riêng biệt chỉ có mục đích duy nhất là để phục vụ cho cơ quan tố tụng khi có yêu cầu.
Khi các đối tượng là công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đã về Việt Nam cần cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì không tra cứu, sử dụng các thông tin này. Cơ quan sử dụng cần quan tâm đối với thời gian công dân ở nước ngoài thì yêu cầu công dân xuất trình lý lịch tư pháp của quốc gia đó cung cấp. Phương án này sẽ khắc phục được một số vấn đề đang đặt ra hiện nay như: tình trạng thong tin không đầy đủ, không kịp thời và không cần phải tính đến việc không tương đồng về tội danh cũng như tính pháp lý của thông tin hiện nay.
– Phương án thứ hai: Thông tin lý lịch tư pháp được tiếp nhận, xây dựng chính thức trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp như hiện nay nhưng phải có quy định từ tiếp nhận, công nhận, khai thác, sử dụng chặt chẽ, cụ thể hơn hoặc quy định một chương riêng về lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài, trong đó quy định cụ thể các vấn đề có tính nguyên tắc như sau:
Một là: Việc ghi vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp của Việt Nam chỉ thực hiện trên cơ sở các hành vi vi phạm của công dân Việt Nam tại nước ngoài cũng được coi là các hành vi vi phạm về hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nếu quy định theo cách này thì cũng phù hợp với các nguyên tắc xác định án tích để thực hiện việc lập lý lịch tư pháp đối với các trường hợp công dân Việt Nam bị Tòa án tại Việt Nam xét xử, cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo chúng tôi thì nên để cho Tòa án xem xét, quyết định hoặc giao cho Viện kiểm sát tối cao chủ trì thành lập hội đồng gồm các cơ quan tố tụng, chuyên gia, luật sư…để xét về mức độ phù hợp, tương ứng, công nhận hay không công nhận cho thi hành tại Việt Nam giống như cách làm của Na Uy, Cộng hòa Liên bang Đức trước khi chuyển cho Bộ Tư pháp xử lý.
Hai là: Tất cả các thông tin vẫn đưa vào cơ sở dữ liệu, nhưng chỉ những trường hợp được công nhận thì mới được coi là chính thức công nhận và cho thi hành tại Việt Nam tức là trường hợp đó mới được lập, cập nhật lý lịch tư pháp. Các thông tin còn lại cũng được đưa vào cơ sở dữ liệu nhưng được quản lý trong một phần riêng để phục vụ cho nhiệm vụ khác khi cần, ví dụ: cơ quan tố tụng cần thông tin..
Ba là: Hiên nay Bộ Luật Hình sự đã quy định xóa án tích, kể cả xóa án tích đương nhiên trong một số loại tội…thì vấn đề xóa án tích cho đối tượng này cũng nên áp dụng nhưng phải những tội danh đã được chuyển đổi, công nhận tương đương…theo pháp luật Việt Nam và trường hợp có vướng mắc thì áp dụng nguyên tắc có lợi cho đương sự.
Bốn là: về các hình phạt bổ sung thì đối với các thông tin về hình phạt bổ sung không nên công nhận và cho thi hành, chỉ cần ghi vào cơ sở dữ liệu để phục vụ cho cơ quan tố tụng khi có yêu cầu.
Với phương án này sẽ bảo đảm tính pháp lý, chặt chẽ quy định và phù hợp với thực tế khi triển khai thực hiện Luật Lý lịch tư pháp cũng như phù hợp với xu hướng phát triển lý lịch tư pháp trên thế giới hiện nay.
Qua thực tế thi hành Luật Lý lịch tư pháp cho thấy, lý lịch tư pháp đang ngày càng được xã hội quan tâm và khẳng định vai trò và vị trí trong đời sống xã hội. Để Luật Lý lịch tư pháp ngày càng đi vào cuộc sống, đáp ứng các yêu cầu của tổ chức, xã hội và công dân, với một số các vấn đề đã nêu dưới khía cạnh của công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong thời gian qua, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số vấn đề về lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài để được nghiên cứu và sửa đổi để phù hợp với thực tiễn hoạt động cũng như xu hướng phát triển của lý lịch tư pháp trong tương lai.
Nguyễn Văn Thắng – Phòng Tiếp nhận và xử lý thông tin
Xếp hạng
5/5

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on pinterest
Share on tumblr

Tư vấn trực tuyến

Bài viết liên quan

Luật sư tranh tụng giỏi

Luật sư tranh tụng giỏi là những chuyên gia pháp lý có kinh nghiệm và tài năng trong việc đại diện cho khách hàng trong

Giải đáp thắc mắc

Tội huỷ hoại tài sản nhà nước

Tội hủy hoại tài sản nhà nước được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự và có thể bị xử lý nghiêm theo pháp luật. Dưới đây là một số thông tin chung về tội hủy hoại tài sản: Định nghĩa: Tội hủy hoại tài sản là hành

Xem chi tiết »

ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT DRAGON

Giám đốc – Thạc sĩ Luật sư:  Nguyễn Minh Long

Công ty luật chuyên:

Hình sự – Thu hồi nợ – Doanh nghiệp – Đất Đai – Trọng tài thương mại – Hôn nhân và Gia đình.

  • Văn phòng luật sư quận Cầu Giấy:  Phòng 6 tầng 14 tòa nhà VIMECO đường Phạm Hùng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
  • Văn phòng luật sư quận Long Biên: Số 24 ngõ 29 Phố Trạm, Phường Long Biên, Quận Long Biên, Hà Nội
  • Điện thoại: 1900 599 979 / 098.301.9109Email: dragonlawfirm@gmail.com

Hệ thống Website:

#luatsubaochua, #luatsutranhtung, #luatsuhinhsu, #luatsugioibaochua, #luatsubaochuahanoi, #luatsubaochuahaiphong

Điều luật tham khảo

Văn bản luật

Thủ tục liên quan đến thuê luật sư

Chi phí thuê luật sư bào chữa vụ án hình sự

Luật hình sự là quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội khi các chủ thể này thực hiện tội phạm. Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, những người có quyền nhờ luật sư bào chữa bao gồm:

  • Người bị bắt.
  • Người bị tạm giữ.
  • Bị can.
  • Bị cáo.
  • Bị hại.
  • Nguyên đơn dân sự.
  • Bị đơn dân sự.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Ngoài những đối tượng trên, theo quy định tại Điều 27 Luật Hình sự năm 2012, người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội cũng có quyền được nhờ luật sư bào chữa cho người bị buộc tội.

Quá trình tố tụng bắt đầu từ giai đoạn điều tra – truy tố – xét xử – thi hành án. Bất kể một cá nhân, đại diện, tổ chức nào ngay khi nhận được giấy mời, giấy triệu tập của cơ quan điều tra hoặc tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tố tụng nêu trên đều có quyền và cần thiết phải nhờ sự hỗ trợ của luật sư.

Tuy nhiên, vì quá trình tố tụng kéo dài đói hỏi người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ phải là người đồng hành cùng thân chủ trong xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Do đó, thời điểm tốt nhất để có thể nhờ luật sư bào chữa là ngay khi nhận được giấy triệu tập từ cơ quan điều tra. Vì, khi đó, luật sư có thể can thiệp pháp lý và bảo vệ cho thân chủ ngay từ giai đoạn đầu tiên.

Luật sư hình sự sẽ giúp ích gì cho bạn?

Luật sư hình sự tham gia vào vụ án hình sự trong suốt quá trình tố tụng từ sơ thẩm đến phúc thẩm hoặc có thể trong giai đoạn tái phẩm hoặc giám đốc thẩm với vai trò là người được nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự ủy quyền tham gia vụ án hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích cho thân chủ.

Tham gia vào ngay từ giai đoạn xác minh ban đầu, khi có giấy triệu tập và trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, luật sư hình sự có những nhiệm vụ sau:

  • Nghiên cứu, xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định pháp luật để bảo vệ thân chủ. Đây là một trong những quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Đóng vai trò là người bảo vệ cho thân chủ tại những phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Giúp phiên tòa có cái nhìn khách quan hơn về động cơ, hoàn cảnh của thân chủ.
  • Luật sư hình sự là người am hiểu pháp luật, vận dụng những kỹ năng của một người luật sư, linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng, giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ của mình.
  • Luật sư hình sự sẽ là người tư vấn đưa ra những giải pháp tốt nhất, đảm bảo đúng quy định pháp luật cho thân chủ của mình.

Vì sao bị can/bi cáo nên nhờ/thuê luật sư hình sự ngay từ ban đầu?

  • Từ khi bị triệu tập, nghi vấn phạm tội: có thể thuê luật sư ngay từ đầu để bảo vệ quyền lợi, có thể bị hình sự hóa trong quan hệ hình sự trong quá trình điều tra xét xử.
  • Giai đoạn tạm giam điều tra: Luật sư tiếp xúc trực tiếp với bị can/thân chủ hỏi cung, đối chất, đề xuất, kiến nghị tới cơ quan tiến hành tố tụng, yêu cầu họ thực hiện đúng quy định pháp luật để bảo cho thân chủ.
  • Tham gia bảo vệ (bào chữa) cho thân chủ tại những phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Giúp phiên tòa có cái nhìn khách quan hơn về động cơ, hoàn cảnh của thân chủ.
  • Luật sư hình sự là người am hiểu pháp luật, vận dụng những kỹ năng của một người luật sư, linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng, tranh tụng giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ của mình.
  • Luật sư hình sự sẽ là người tư vấn đưa ra những giải pháp tốt nhất, đảm bảo đúng quy định pháp luật cho thân chủ của mình.

Đối với người bị hại thì Luật sư hình sự sẽ giúp ích những gì?

  • Luật sư thu thập chứng cứ
  • Tư vấn pháp luật hình sự cho người bị hại hiểu được hành vi của bi can/bị cáo biết được tội danh mà cơ quan điều tra khởi tố với người phạm tội đã đúng hay chưa
  • Giúp cho người bị hại soạn thảo các đơn từ kiến nghị để việc khởi tố/truy tố đối với bị can gây ra thương tích, gây ra thiệt hại cho người bị hại là “đúng người đúng tội”
  • Vấn đề về bồi thường: Luật sư tư vấn soạn thảo tính toán mức bồi thường để đưa ra yêu cầu xém xét bồi thường.

Tiêu chí để lựa chọn dịch vụ luật sư hình sự là gì?

Thông thường, mọi người có xu hướng lựa chọn luật sư thông qua quen biết vì cho rằng luật sư thông qua quen biết sẽ có độ tín nhiệm cao hơn hoặc là và có thể “nhờ vả” được. vậy đây có phải là một tiêu chí để lựa chọn luật sư?

Theo quy định tại quy tắc số 5 Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ của liên đoàn luật sư Việt Nam về quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam thì một trong những quy tắc hành nghề chính là bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng, đây là một trong những quy tắc mà bất kì luật sư nào cũng thuộc nằm lòng.

Hơn nữa, hiện nay cuộc cách mạng cải cách tư pháp đã loại bỏ rất nhiều tiêu cực trong hoạt động tố tụng, quá trình xét xử, theo thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP quá trình xét xử phải được ghi âm ghi hình đảm bảo sự minh bạch rõ ràng tránh những hoạt động, hành vi tiêu cực trong xét xử.

Bất kỳ luật sư nào cũng có nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích cho thân chủ của mình, và quy trình hoạt động tố tụng cũng đã được quy định chặt chẽ hơn, các hoạt động tiêu cực cũng từ đó bị triệt tiêu dần. Do đó, yếu tố người thân người quen không phải là một trong những yếu tố, tiêu chí để lựa chọn luật sư, mà tiêu chí để lựa chọn luật sư bao gồm những tiêu chí sau:

  • Luật sư có chuyên môn trong lĩnh vực hình sự, đây là một yếu tố quan trọng của một luật sư hình sự vì phải hiểu rõ lý luận pháp luật, cập nhật thường xuyên những thay đổi của pháp luật, am hiểu cơ chế hoạt động điều tra thì mới có thể bảo vệ tốt cho thân chủ của mình.
  • Luật sư có kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng hình sự, trong thực tiễn và tham gia tố tụng trong nhiều vụ án vì càng tham gia nhiều vụ án thì càng tích lũy được nhiều bản lĩnh, kinh nghiệm thâm niên lâu có thể giải quyết được không chỉ những vấn đề pháp luật mà vấn đề quan hệ với các cơ quan tố tụng, cơ quan điều tra.
  • Thấu hiểu hoàn cảnh, động cơ, lý do, hoàn cảnh của thân chủ ví dụ như: do hoàn cảnh khó khăn, do nền tảng gia đình không tốt, do rơi vào tình thế bắt buộc, … từ đó mới xây dựng được phương án, cung cấp dịch vụ tốt nhất cho thân chủ.
  • Chi phí dịch vụ luật sư, tùy vào từng trường hợp, vụ việc cụ thể chi phí luật sư sẽ khác nhau, có những vụ án có tính chất phức tạp, thì ngoài chi phí luật sư còn nhiều chi phí khác như chi phí giám định thương tích thương tật, giám định tự thi, chi phí dựng hiện trường, … Do đó, Tùy vào từng vụ việc cụ thể và hoàn cảnh của thân chủ để đưa ra mức phí phù hợp.

Phí dịch vụ luật sư hình sự được tính như thế nào?

Một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư phải thông báo rõ ràng mức thù lao, chi phí cho khách hàng, tuy nhiên, vì tính chất nhạy cảm của vụ án hình sự, chi phí dịch vụ hình sự không giống như các chi phí dịch vụ luật sư khác, không có mức phí cố định, rõ ràng.

Như đã đề cập ở trên, tùy vào từng trường hợp cụ thể của vụ việc mà phí dịch vụ luật sư sẽ khác nhau. Chi phí luật sư trong vụ án hình sự rất phức tạp, tùy vào từng sự việc, luật sư đưa ra mức chi phí cụ thể, do đó, quý khách hàng cần phải gặp trực tiếp với luật sư của công ty luật để có thể trao đổi và đánh giá tính phức tạp của vụ việc mới có thể đưa ra được mức phí phù hợp

Ngoài chi phí dịch vụ luật sư, còn có những khoản phí riêng khác, không nằm trong chi phí dịch vụ luật sư như:

  • Chi phí giám định thương tật
  • Chi phí cho người làm chứng
  • Chi phí bồi thường dân sự

Có cam kết kết quả trong vụ án hình sự không?

Công ty luật Dragon của chúng tôi đảm bảo thực hiện công việc theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định và đảm bảo tuân thủ đúng 27 quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam theo quy định tại Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội Đồng luật sư toàn quốc.

Công ty chúng tôi luôn đặt quyền lợi khách hàng lên đầu, cam kết giữ bí mật những thông tin liên quan đến khách hàng, đem những hiểu biết, kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng hình sự, sự tận tâm, nhiệt tình của mình đến cho khách hàng.

Trên đây là toàn bộ nội dung bài giới thiệu dịch vụ luật sư hình sự và hướng dẫn cách chọn luật sư hình sự. Quý khách hàng nếu có nhu cầu sử dụng dịch vụ luật sư hình sự của công ty chúng tôi hoặc có thắc mắc về chính sách dịch vụ luật sư của công ty vui lòng liên hệ hotline 098.301.9109 để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Luật Dragon nhận hỗ trợ “tư vấn” trực tuyến 24/24 qua các hình thức như sau:

  • Tư vấn pháp luật qua EMAIL: congtyluatdragon@gmail.com
  • Tư vấn pháp luật qua FACEBOOK: Fanpage Luật Dragon
  • CÔNG TY LUẬT DRAGON

    LUÔN ĐỒNG HÀNH CÙNG QUÝ KHÁCH!

    TRỤ SỞ CHÍNH CÔNG TY LUẬT DRAGON:

    Add: Phòng 14.6, Tòa nhà Vimeco, Lô 9E, Đường Phạm Hùng, Quận Cầu Giấy, Hà Nội.

    Tel: 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN LUẬT SƯ TẠI QUẬN LONG BIÊN:

    Add: Số 24 ngách 29 Phố Trạm phường Long Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội

    Tel : 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TẠI HẢI PHÒNG:

    Add: Số 102, Lô 14 đường Lê Hồng Phong, Phường Đằng Lâm,Quận Hải An, Hải Phòng.

    Tel : 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TẠI TP HCM:

    Tel : 1900. 599. 979

    =====================

    BAN GIÁM ĐỐC CÔNG TY LUẬT DRAGON:

    Luật Sư Nguyễn Minh Long

    Điện Thoại: 098.301.9109

    Email: dragonlawfirm@gmail.com

Quy trình giải quyết vụ án hình sự

Từ khóa: thuê luật sư vụ án hình sự,Giá thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư vụ án hình sự,Có nên thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư có được bồi thường,Hợp đồng thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư bào chữa, chi phí thuê luật sư bào chữa

Luật sư bào chữa giỏi tại Hải Phòng

Xã hội càng phát triển, nghề luật sư càng có vai trò quan trọng. Hằng ngày, nhiều tranh chấp, kiện tụng phát sinh và luật sư phải đứng ra tranh đấu để bảo vệ lẽ phải, công lý.

Bảo vệ lẽ phải

Luật sư Nguyễn Minh Long ở Văn phòng luật sư Dragon (Chi nhánh Hải Phòng) đã có gần 10 năm gắn bó với nghề. Giống như nhiều đồng nghiệp khác, công việc trong ngày của anh khá bận rộn và luôn phải di chuyển. Từ việc xếp lịch gặp khách hàng, lịch làm việc tại tòa án, đi thu thập chứng cứ… đều được anh thực hiện một cách cẩn trọng. Nhiều khi các luật sư còn trở thành chuyên gia tâm lý giúp thân chủ và người nhà yên tâm, tin tưởng vào lẽ phải.

Luật sư Long cho biết: “Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo vệ công lý và lẽ phải. Vì vậy, mỗi vụ việc đều phải được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, chính xác, mất nhiều thời gian, công sức. Chỉ cần một sai sót cũng có thể dẫn đến những hậu quả khó lường”.

Giữ tâm trong sáng

Luật sư Long chia sẻ, hơn 10 năm gần đây, xã hội, con người có nhiều thay đổi, phát sinh nhiều mâu thuẫn phức tạp. Các vụ án liên quan đến kinh tế, hình sự, tranh chấp đất đai, hôn nhân – gia đình xảy ra nhiều hơn, phức tạp hơn. Vì thế, công việc của giới luật sư cũng vất vả gấp nhiều lần. Tuy nhiên, anh quan niệm phải luôn giữ tâm trong sáng để mỗi vụ việc đều được xử lý chính xác, theo đúng pháp luật. Nhiều lúc, các luật sư còn trở thành chuyên gia tư vấn  miễn phí.

Năm 2012, luật sư Long nhận tư vấn thủ tục ly hôn cho một phụ nữ ngoài 50 tuổi ở Quận Hồng Bàng. Do người chồng làm thợ xây nên hay đi nhiều nơi, có quan hệ phức tạp, về nhà thường chửi mắng vợ con. Không chịu nổi tình cảnh này, người vợ quyết định ly hôn. Qua tiếp xúc và tìm hiểu câu chuyện, anh Phán nhận thấy vẫn có cơ hội cứu vãn cuộc hôn nhân này. Bằng vốn kinh nghiệm qua từng vụ án và đời sống thường ngày, anh phân tích, giảng giải để người phụ nữ kia hiểu được điều hơn, thiệt. Lúc đầu, người phụ nữ này không nghe mà cương quyết đưa chồng ra tòa. Tuy nhiên, sau nhiều lần tiếp xúc, động viên, phân giải, họ đã chữa lành được vết thương, bỏ qua những lỗi lầm để hàn gắn trở lại.

Một số người vẫn hay nghĩ luật sư là nghề có nhiều quan hệ, kiếm được nhiều tiền nhưng thực tế những khó khăn, vất vả chỉ có người trong nghề mới hiểu hết. Để có thể trở thành một luật sư phải trải qua một thời gian dài học tập và đào tạo. Theo quy định, ngoài tấm bằng cử nhân, luật sư phải qua lớp đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư, thời gian tập sự và thi qua kỳ thi kết thúc tập sự. Thời gian này tối thiểu là 6 năm hoặc có thể kéo dài hơn. Có người theo đuổi cả chục năm mới trở thành một luật sư.

Luật sư Long cho biết: “Công việc vất vả lắm nhưng thu nhập của anh em luật sư cũng chỉ đủ sống. Nhiều khi gặp trường hợp khó khăn, người cao tuổi, gia đình chính sách, chúng tôi chỉ làm giúp chứ không nhận phí. Gặp người tốt, sau khi tư vấn hay hoàn tất vụ việc thì họ đến có lời cảm ơn. Nhưng cũng có trường hợp mình thấy vấn đề của họ khiếu nại là sai, phân tích để nhận ra lẽ phải thì họ phản ứng ra mặt, thậm chí còn có những lời nói không đúng mực. Dù vậy, chúng tôi vẫn luôn giữ vững cái tâm với nghề”.

Công việc vất vả nên không phải ai cũng gắn bó được với nghề. Vì thế, người trẻ thường ít chọn học luật và đầu tư thời gian, chất xám để trở thành luật sư. Hiện nay, Hải Phòng có hơn 100 luật sư đang hành nghề, trong đó có khoảng 30 người là người cao tuổi, đã nghỉ hưu. Chỉ có tình yêu nghề mới giúp họ gắn bó với nghề luật sư trong thời gian dài. Mặc dù khó khăn là thế nhưng các luật sư như anh Long  luôn tin rằng nghề luật sư sẽ có triển vọng trong tương lai vì góp phần bảo đảm công bằng xã hội.

Văn phòng luật sư Dragon Hải Phòng

Khi nào cần thuê luật sư bào chữa

Thuê luật sư là việc người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị buộc tội, bị can, bị cáo và người thân thích của họ là cha, mẹ, vợ, con, ông, bà… thuê luật sư bào chữa cho trường hợp của gia đình nhà mình

Vai trò của Luật sư, luật sư tham gia vụ án hình sự với vai trò là người bào chữa, khi thực hiện bào chữa cho người bị buộc tội, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo trong tất cả các giai đoạn từ Điều tra vụ án, khởi tố vụ án, Truy tố vụ án và xét xử vụ án, luật sư sẽ thực hiện các quyền bào chữa để bảo chữa cho các bị can, bị cáo.

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt là trường hợp người bị tình nghi hay còn gọi là nghi can có thể bị bắt quả tang hoặc bị tạm giữ song bắt hoặc bị mời về làm việc tại trụ sở cơ quan điều tra song bắt, trong tường hợp này người bị bắt có quyền thuê luật sư để bào chữa cho mình. Việc luật sư tham gia bào chữa từ giai đoạn này là hết sức cần thiết vì tham gia ngay từ ban đầu sẽ bảo đảm được quyền của người bị bắt cũng như làm sáng tỏ các sự kiện khách quan của vụ án

Thuê luật sư bảo chữa cho bị can khi phạm tội Khi một ai đó có hành vi phạm tội đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan Công an khởi tố vụ án và khởi tố bị can, lúc đó người bị khởi tố trở thành bị can và có quyền mời luật sư bào chữa cho mình để tham gia vào vụ án. Luật sư khi tham gia bào chữa cho bị can sẽ giúp đỡ bị can về mặt pháp luật, sử dụng các biện pháp cần thiết và hợp pháp để bảo vệ bị can. Quá trình bào chữa của luật sư cho bị can từ khi bị mời lên làm việc, khi bị khởi tố tại cơ quan Điều tra, khi bị Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền truy tố bị can bằng Bản cáo trạng và cho đến khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. nói như vậy không có nghĩa là luật sư sẽ chấm dứt tư cách bào chữa cho bị can mà tư cách của bị can được chuyển sang thành tư cách Bị cáo.

Thuê luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Khi một bị can hay người bị buộc tội bị Tòa án nhân dân có thẩm quyền có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì lúc đó được chuyển sang một tư cách mới là tư cách bị cáo, Luật sư người bào chữa tiếp tục bào chữa cho bị cáo trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án ở giai đoạn sơ thẩm hoặc phúc thẩm nếu bị cáo có kháng cáo và tiếp tục mời luật sư bào chữa cho mình. Luật sư bào chữa cho bị cáo có những quyền và nghĩa vụ nhất định, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cũng như trao đổi với bị cáo để sao cho bào chữa cho bị cáo được tốt nhất.

Thuê luật sư tham gia vụ án hình sự là trường hợp đã xác định một vụ án hình sự, vụ án có thể hình thành từ giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tiến hành điều tra hoặc có thể vụ án đã được Viện kiểm sát có thẩm quyền tiến hành xem xét truy tố ra tòa án và cũng có thể vụ án đã được tòa án chuẩn bị đưa ra xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm. Luật sư tham gia vào vụ án hình sự sẽ thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của người bào chữa để nghiên cứu hồ sơ và bào chữa cho người được bào chữa.

Thuê luật sư bảo vệ cho người bị hại trong vụ án hình sự: Trong vụ án hình sự liên quan đến thiệt hại luật sư sẽ tham gia bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại, tham gia và các giai đoạn tố tụng tại Cơ quan Điều tra, Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án; sao chụp hồ sơ tài liệu, thu thập chứng cứ và đưa ra cũng như bảo vệ các yêu cầu về bồi thường thiệt hịa cho người bị hại. Trong quá trình tranh tụ tại Tòa án, Luật sư sẽ phát biểu quản điểm luận tội đối với các bị cáo đã gây ra cho bị hại; nếu vụ án cần phải kháng cáo luật sư sẽ giúp bị hại thực hiện việc kháng cáo bản án theo quy định.

Thuê luật sư bào chữa cho người chưa thành niên, người chưa thành niên khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì đây là những người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (14 tuổi) nhưng chưa thành niên (dưới 18 tuổi) khi phạm tội thì bắt buộc phải có luật sư. Thông thường bố mẹ hoặc người đại diện hợp pháp hay người giám hộ sẽ thuê luật sư bào chữa. Trường hợp không thể có điều kiện thuê luật sư thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ yêu cầu Đoàn luật sư chỉ định luật sư bào chữa. Đây là quyền cơ bản của người dưới thành niên để có thể bào chữa cho hộ được tốt nhất.

Luật sư bào chữa để trả hồ sơ điều tra bổ sung là trường hợp luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự và vào từng giai đoạn cụ thể có thể là giai đoạn truy tố tại Viện kiểm sát, Luật sư kiến nghị việc trả hồ sơ cho cơ quan Điều tra để tiến hành điều tra bổ sung hoặc sau khi Viện kiểm sát đã quyết định truy tố bằng Bản cáo trạng ra Tòa án có thẩm quyền thì Luật sư kiến nghị Thẩm phán thụ lý vụ án ra Quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung hoặc Tại phiên tòa luật sư bào chữa để Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Giai đoạn mà luật sư có quyền tham gia theo quy định tại Bộ luật TTHS, Luật Luật sư và các văn bản pháp luật liên quan, cụ thể:

I. Giai đoạn tố tụng mà luật sư có thể tham gia

Theo quy định tại khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (BLTTHS) thì người bào chữa có thể là:

“a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.”

Bên cạnh đó, Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng như sau:

“Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.

Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.”

Căn cứ những quy định trên, luật sư có thể tham gia tố tụng để bào chữa cho em bạn khi em bạn hoặc gia đình bạn có giấy mời luật sư sau đó Luật sư sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận bào chữa theo quy định của BLTTHS và những văn bản có liên quan.

II. Quyền hạn của Luật sư (người bào chữa)

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định cụ thể tại Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

“1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

i) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

l) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.

Bạn có thể tham khảo thêm nội dung tư vấn áp dụng văn bản pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

I. Giai đoạn tố tụng mà luật sư có thể tham gia

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) thì người bào chữa có thể là:

1.  Luật sư;

2.  Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

3.  Bào chữa viên nhân dân.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 58 BLTTHS có quy định: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Căn cứ những quy định trên, luật sư có thể tham gia tố tụng để bào chữa cho em bạn khi em bạn hoặc gia đình bạn có giấy mời luật sư sau đó Luật sư sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận bào chữa theo quy định của BLTTHS và những văn bản có liên quan.

II. Quyền hạn của Luật sư (người bào chữa)

Theo quy định tại khoản 2 Điều 58 BLTTHS thì Luật sư (người bào chữa) có quyền:

1.  Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

2.  Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;

3.  Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

4.  Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;

5.  Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

6.  Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;

7.  Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;

8.  Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;

9.  Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

10. Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Thuê luật sư bào chữa hình sự ở Hà Nội

Gọi cho một luật sư chuyên hình sự tại Hà Nội : 1900. 599. 979

Bạn đã bị buộc tội về một tội ác mà bạn đã không phạm phải và tìm kiếm công lý nhanh chóng và không bị tổn thương trong khi duy trì danh dự và nhân phẩm của bạn? Hoặc, có lẽ bạn đã là nạn nhân của một tội ác và tìm kiếm sự trừng phạt hợp pháp đối với những người đã làm hại bạn hoặc gia đình bạn. Bạn thậm chí có thể tự mình phạm tội và mong muốn giải quyết tốt nhất có thể. Bất kể nguyên nhân hay động cơ, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ tạo điều kiện cho công lý nhanh chóng và phù hợp cho các khách hàng tại Hà Nội và Hải Phòng của chúng tôi để họ nhận được phán quyết tốt nhất có thể.

Đó là, nếu bạn đã bị nhà nước buộc tội theo bộ luật hình sự, bắt buộc phải xuất hiện trước cơ quan quản lý hoặc muốn kháng cáo quyết định, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ luôn cung cấp cho bạn sự hài lòng hoàn toàn. Hơn nữa, chúng tôi tính phí trên cơ sở lãi suất cố định để bạn nhận thức đầy đủ về các khoản chi tiêu trước khi chúng tôi thực hiện trường hợp của bạn. Bạn sẽ không bao giờ phải lo lắng về các cáo buộc ẩn hoặc những bất ngờ khó chịu khác trước và sau khi phán quyết được đưa ra.

Hơn nữa, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ luôn bảo vệ bạn một cách trung thực và đạo đức. Chúng tôi sẽ sử dụng mọi phương tiện theo ý của chúng tôi để đảm bảo rằng công lý được đáp ứng và bạn sẽ nhận được phán quyết tốt nhất có thể, đưa ra bằng chứng. Văn phòng luật sư Dragon cũng sẽ tham khảo đầy đủ với bạn về các tùy chọn có sẵn và đề xuất lựa chọn tốt nhất cho nhu cầu duy nhất của bạn. Đó là, chúng tôi luôn đặt lợi ích tốt nhất của bạn lên hàng đầu và sẽ thực hiện các bước chủ động để vượt ra ngoài sự đại diện đơn thuần.

Ví dụ, các luật sư hình sự tại Hà Nội của chúng tôi được yêu cầu đăng ký vào các chương trình sáng kiến ​​giáo dục thường xuyên để họ cập nhật kiến thức hiểu biết hệ thống pháp lý – và tất cả các sắc thái của nó – một cách triệt để. Chúng tôi cũng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ để đảm bảo rằng kiến ​​thức về các đạo luật pháp lý của chúng tôi luôn cập nhật và chính xác.

Do đó, nếu bạn đã bị buộc tội hoặc là nạn nhân của tội phạm, bạn sẽ cần một luật sư pháp lý tốt nhất để đưa ra phán quyết mà bạn mong muốn. Các công tố viên và luật sư hình sự tận tâm, có kinh nghiệm và có trình độ học vấn cao của chúng tôi có một hồ sơ theo dõi thành công đã được chứng minh và có khả năng sẽ tạo điều kiện cho bản án mà bạn và gia đình bạn mong muốn. Hơn nữa, chúng tôi đã xử lý các vụ án hình sự từ rửa tiền đến giết người hàng loạt. Do đó, không có vụ án hình sự nào ở Hà Nội quá tầm thường hay khó khăn đối với các luật sư hình sự tại Văn phòng Luật sư Dragon.

Hãy cho chúng tôi về trường hợp hay vụ việc của bạn

Đại diện tư vấn trực tiếp của chúng tôi luôn sẵn sàng 24/7 để hỗ trợ bạn và có thể lên lịch tư vấn với chuyên gia luật của chúng tôi.

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt là trường hợp người bị tình nghi hay còn gọi là nghi can có thể bị bắt quả tang hoặc bị tạm giữ song bắt hoặc bị mời về làm việc tại trụ sở cơ quan điều tra song bắt, trong tường hợp này người bị bắt có quyền thuê luật sư để bào chữa cho mình.

Người bị bắt tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt tạm giữa người bị bắt tạm giữ được nghe, nhận lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;

Người bị bắt tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp có các quyền:

– Được biết lý do mình bị giữ;

– Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự;

– Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

– Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

– Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá và các quyền khác

Người bị bắt tạm giữ có được quyền nhờ luật sư. Theo quy định thì người bị bắt tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bảo chữa cho mình. Nếu nhờ luật sư bào chữa họ có quyền yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ việc liên hệ luật sư để họ có thể nhờ luật sư bào chữa cho mình, ngoài ra họ cũng có các quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người.

Người bị bắt theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự thì là bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt theo quyết định truy nã. Khi bị bắt người bị bắt có các nghĩa vụ chấp hành lệnh bắt người và yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền bắt người theo quy định của pháp luật.

Người bị bắt khi bị bắt có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa và một số quyền cơ bản sau:

Được biết lý do mình bị giữ, bị bắt;
Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá;
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người. Và một số quyền khác.
Khi bị tạm giữ có được thuê luật sư? Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ. Ngoài các quyền cơ bản được quy định tại Khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự thì người bị tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc thuê luật sư bào chữa.

Thuê luật sư bào chữa tại Công ty luật Dragon. Vui lòng liên hệ: 1900.599.979

 

Khi chưa khởi tố mà nhận được giấy triệu tập của công an có nên thuê luật sư bào chữa

Tôi có giấy triệu tập của công an thành phố, liên quan đến tội trộm cắp xảy ra do bạn tôi làm đơn, mặc dù tôi khẳng định tôi không liên quan đến sự việc của bạn tôi mất trộm? mất bao nhiêu tiền? mất ở đâu ? như thế nào? bạn ấy làm đơn vu khống cho tôi.. Tôi bị công an gọi điện mời tôi, tôi vì không hiểu pháp luật nên đã ký hợp đồng thuê luật sư bào chữa bảo vệ cho tôi, đến lịch hẹn làm việc theo giấy triệu tập? Luật sư của tôi đi cùng tôi đến xuất trình tại công an điều tra như giấy giới thiệu, đơn mời luật sư bào chữa và thẻ luật sư, nhưng bên công an đã từ chối không cho luật sư bào chữa cho tôi tham gia với lý do, hiện nay chưa khởi tố vụ án, chưa khởi tố tôi, công an chỉ mời lên làm rõ sự việc, công an đề nghị tôi và luật sư bổ sung thêm hợp đồng dịch vụ pháp lý? Lúc đấy tôi thấy luật sư bảo tôi cứ làm việc với công an và luật sư bỏ ra về. Tôi rất hoang mang và đã bị sốc nên từ chối không làm việc với công an và xin hẹn buổi khác, tôi có nói với công an là phải có luật sư thì tôi mới làm việc sau đó tôi đi về. Luật sư của tôi không giải thích cho tôi biết lý do và ý kiến của cơ quan điều tra đúng hay sai? Nay tôi nhờ luật sư tư vấn ý kiến của công an như vậy có đúng không? luật sư bảo vệ cho tôi làm như vậy có đúng không? Tôi rất hoang mang khi tìm chọn một công ty luật có uy tín mà lại có một luật sư hành xử như vậy? Rất mong Công ty luật Dragon tư vấn gấp cho tôi.

Phúc đáp yêu cầu tư vấn pháp luật của anh/chị, đề nghị cho ý kiến về một số nội dung pháp lý liên quan đến việc: người bị kiến nghị khởi tố/bị tố giác có được mời Luật sư không, Luật sư Công ty luật Dragon có ý kiến như sau:

*) Đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác:

Theo như trình bày thì anh/chị đang bị tố giác về hành vi trộm cắp tài sản. Khoản 1 Điều 83 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác là người được người bị tố giác nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Luật sư là một trong những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác (điểm a khoản 2 Điều 83 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015). Như vậy, anh/chị có quyền mời Luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ngay từ khi bị tố giác (từ khi chưa có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can).

Khoản 1 Điều 27 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2012) quy định: “Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư phải tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng và Luật này”.

Bộ Luật Tố tụng hình sự không quy định rõ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác phải xuất trình những giấy tờ gì khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm làm việc thực tế của Luật sư và quy định tại điểm a khoản 2 Điều 78 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì những giấy tờ Luật sư cần xuất trình khi làm việc với Cơ quan CSĐT là: Giấy giới thiệu của công ty luật cử luật sư đến cơ quan điều tra làm việc, Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu đơn mời luật sư của người bị tố giác ( anh chị cũng như Luật sư không phải xuất trình Hợp đồng dịch vụ pháp lý).

Như vậy, việc công an từ chối không cho luật sư tham gia với lý do: hiện nay chưa khởi tố vụ án, chưa khởi tố bị can, công an chỉ mời lên làm rõ sự việc và đề nghị anh và luật sư bổ sung thêm hợp đồng dịch vụ pháp lý là vi phạm tố tụng.

*) Quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác:

Khoản 3 Điều 83 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác có quyền:

  1. a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
  2. b) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
  3. c) Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
  4. d) Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

đ) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Luật sư bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh/chị không đưa ra ý kiến nào và bỏ về khi bị công an từ chối là không thực hiện quyền của mình theo quy định trên. Không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho khách hàng. Việc anh/chị từ chối không làm việc với công an, xin hẹn buổi khác và nói với công an là phải có luật sư bào chữa cho anh/chị thì anh/ chị mới làm việc với cơ quan điều tra là đúng với quy định của pháp luật.

Trên đây là quan điểm ý kiến của Thạc sĩ Luật sư Nguyễn Minh Long Giám đốc Công ty Luật Dragon – Đoàn Luật sư TP. Hà Nội về nội dung vụ viêcj trên.

Để biết thêm thông tin chi tiết bạn có thể liên hệ với Luật sư Hà Nội và Luật sư Hải Phòng theo địa chỉ dưới đây.

  1. Trụ sở chính Công ty Luật Dragon tại quận Cầu Giấy:  Phòng 6, Tầng 14, Tòa nhà VIMECO, Đường Phạm Hùng, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
  2. VPĐD luật sư Công ty luật Dragon tại quận Long Biên: Số 24 Ngõ 29 Phố Trạm, phường Long Biên, quận Long Biên, Tp Hà Nội.
  3. Chi nhánh Công ty Luật Dragon tại Hải Phòng: Phòng 6 tầng 4 Tòa Nhà Khánh Hội, đường Lê Hồng Phong, quận Hồng Bàng, Tp Hải Phòng.

Công ty Luật Dragon cung cấp biểu phí và thù lao luật sư bào chữa tham khảo tại đây

Trân trọng!

CÔNG TY LUẬT DRAGON

Luật sư chuyên bào chữa vụ án hình sự

ĐIỀU LUẬT

ÁN LỆ