Góp ý dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân và Luật sư – Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

3

Thể chế hóa đường lối của Đảng về công tác tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”và Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của BCHTƯ về “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, trong những năm qua, Quốc hội đã có nhiều hoạt động hướng tới hoàn thiện thể chế pháp luật, trong đó có thể chế pháp luật về hội thẩm nhân dân (HTND) và luật sư (LS). Trong chiến lược cải cách tư pháp, HTND và LS được xác định là chủ thể quan trọng trong quá trình dân chủ hóa các hoạt động xét xử.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu lý luận quy định về hai chức danh HTND và LS có những điểm chưa đồng nhất, không thể hiện sự tương thích giữa hai chế định quan trọng này trong Luật tổ chức TAND 2024 và Luật Luật sư 2006. Đã là luật sư thì không được bầu làm HTND nhưng đã là HTND thì có được hành nghề luật sư không?

Hiến pháp nước ta ghi nhận chế định HTND tham gia xét xử từ rất sớm. Việc có HTND khi xét xử sơ thẩm hình sự, dân sự, hành chính là một chủ trương đúng đắn của Đảng ta trong việc nâng cao nền tư pháp Việt Nam theo tiến trình dân chủ hóa. Theo Điều 8 Luật tổ chức TAND 2024 và các quy định của pháp luật khác có liên quan quy định, việc xét xử sơ thẩm của tòa án phải có HTND tham gia trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; khi xét xử, HTND ngang quyền với thẩm phán; biểu quyết để ra một bản án theo tuân theo nguyên tắc đa số. Như vậy, chế định HTND được pháp luật quy định rất cụ thể. Theo đó, HTND phải có đủ các tiêu chuẩn: Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và với Hiến pháp; có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực; từ đủ 28 tuổi đến 70 tuổi; có kiến thức pháp luật; hiểu biết xã hội và có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Ngoài các quy định của Luật tổ chức TAND, các điều kiện khác để được làm HTND như được thể hiện trong các văn bản dưới luật như: Không đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức; không bị xử lý kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm, cách chức, buộc thôi việc; không thuộc trường hợp đang bị xử lý hình sự hoặc đã bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật; trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức; bị xử lý kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm, cách chức, buộc thôi việc;đang bị xử lý hình sự hoặc đã bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật; không thuộc trường hợp đã bị bãi nhiệm HTND.

Điều 123 Luật tổ chức TAND quy định, luật sư là một trong 05 nhóm chức danh không được làm HTND như:

1. Người đang giữ chức danh tư pháp, công chức, viên chức và người lao động trong Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan công an, cơ quan thi hành án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của luật.

2. Luật sư.

3. Công chứng viên.

4. Thừa phát lại.

5. Trợ giúp viên pháp lý.

Căn cứ Điều 10 và Điều 11 Luật Luật sư năm 2006, tiêu chuẩn của luật sư cần đáp ứng các điều kiện để hành nghề như: Là công dân Việt Nam; trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; có phẩm chất đạo đức tốt; có sức khoẻ để đảm bảo hành nghề luật sư; có bằng cử nhân luật và đã được đào tạo nghề LS.

Khoản 4 Điều 17 Luật Luật sư quy định người thuộc một trong những trường hợp sau đây thì không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư:

a) Đang là cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

b) Không thường trú tại Việt Nam;

c) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

d) Đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục hoặc quản chế hành chính;

đ) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

e) Những người quy định tại điểm a khoản này bị buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực.

Ngoài các quy định mang tính chất tiêu chí nêu trên, tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 137/2018/NĐ-CP, quy định những người sau đây sẽ không đáp ứng tiêu chuẩn để trở thành LS, bao gồm: Đã bị kỷ luật mà quyết định kỷ luật chưa chấm dứt hiệu lực hoặc bị buộc thôi việc mà chưa hết hạn 03 năm; đã bị xử lý hành chính về lĩnh vực bổ trợ tư pháp, trợ giúp pháp lý, gây thiệt hại về tài sản của người khác, về bảo vệ bí mật Nhà nước; cản trở, chống việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoặc đưa hối lộ cho người thi hành công vụ và chưa hết hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong; đã bị phạt hành chính, kỷ luật hoặc chịu trách nhiệm hình sự hoặc có kết luận về một trong các hành vi liên quan đến chiếm đoạt tài sản, trục lợi, gian lận, gian dối, xâm phạm an ninh quốc gia, ứng xử, phát ngôn ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín nghề LS…

Từ các quy định nêu trên, có thể nhận thấy HTND và LS có địa vị pháp lý; phạm vi hoạt động khác nhau. Khác với chức danh HTND, con đường để trở thành luật sư ở Việt Nam phải là những người đã có bằng cử nhân luật; được đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề luật sư (không có thời hạn).

Xét về tiêu chí, giữa HTND và LS đều có chung là công dân Việt Nam; có kiến thức pháp luật và hiểu biết xã hội. Tuy nhiên, HTND được hình thành từ cơ chế bầu của cơ quan dân cử thông qua bước Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hiệp thương mà không quy định tiêu chí bằng cấp chuyên môn. Đối với LS, chức danh này được hình thành trên cơ sở phải đạt trình độ cử nhân luật; phải qua lớp đào tạo và được cấp chứng chỉ hành nghề LS. Trong khi đó, HTND “khi xét xử ngang quyền với Thẩm phán; biểu quyết theo đa số”, được xếp vào nhóm đối tượng người tiến hành tố tụng còn Luật sư chỉ được xếp vào nhóm người tham gia tố tụng. Phương diện hoạt động, Luật sư được hoạt động trong cả nước, HTND chỉ được tham gia xét xử tại Tòa án nơi được Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra.

Có thể thấy, Luật tổ chức TAND quy định đã là Luật sư thì không được bầu làm hội thẩm. Trong khi đó, Luật Luật sư không quy định HTND thuộc nhóm đối tượng không được cấp giấy phép hành nghề LS.  Luật Tổ chức TAND và Luật Luật sư không đưa người vừa làm HTND vừa làm LS vào nhóm đối tượng không được phép làm nhiệm vụ hội thẩm và hành nghề LS. Khác với HTND, có thể hoặc không là cán bộ, công chức viên chức; muốn được hành nghề luật sư, nhất thiết không phải là cán bộ, công chức, viên chức. Với thể chế pháp luật hiện hành, sẽ không giới thiệu người đang hành nghề luật sư làm hội thẩm. Lý lẽ này cho rằng, vị trí pháp lý khác nhau; chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nên giữa HTND và LS là hai chức danh có thể xảy ra xung đột về tính độc lập (LS bảo vệ quyền lợi cho một bên; HTND bảo vệ lợi ích mang tính trung lập); xung đột về nguyên tắc tố tụng cơ bản về phân định chức năng (Không thể vừa thuộc nhóm đối tượng người tiến hành tố tụng, vừa thuộc nhóm đối tượng người tham gia tố tụng).

HTND tuy được xếp vào nhóm đối tượng là người tiến hành tố tụng nhưng xét về thực tiễn, đây là người tiến hành tố tụng không “tròn nghĩa”. Bởi vì, HTND chỉ đơn thuần tham gia vào hoạt động xét xử ở các phiên tòa sơ thẩm. Do đó, sẽ không đủ sức thuyết phục để cho rằng, đã là HTND thì không đồng thời hành nghề luật sư và ngược lại. Trong khi đó, các quy định về tố tụng (hình sự, dân sự và hành chính) chỉ quy định các trường hợp Thẩm phán, HTND phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp nhất định như họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự; đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ việc; có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ… Luật sư phải từ chối nếu cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có lợi ích đối lập nhau trong cùng một vụ việc.

Như vậy, một vấn đề đặt ra, không thể giải thích cho trường hợp một người A. tham gia xét xử một vụ án hình sự với vai trò là hội thẩm nhưng không có quyền bảo vệ lợi ích cho đương sự với vai trò là LS ở một vụ kiện dân sự trong cùng một Tòa án?. Trường hợp, một HTND được cơ quan dân cử của tỉnh A. bầu và đương nhiên chỉ được làm nhiệm vụ hội thẩm tại địa bàn nơi được bầu ra, nhưng lại không được phép hợp đồng dịch vụ pháp lý cho khách hàng với vai trò Luật sư tại tỉnh B.; Trường hợp trước đây, khi chưa tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đã là HTND cấp tỉnh hoặc cấp huyện nhưng vẫn không được làm nhiệm vụ LS tại một cấp Tòa nơi mình không làm nhiệm vụ hội thẩm…Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm, giữa HTND và LS là hai chức danh có xung đột lợi ích nhưng chỉ trong một giới hạn nhất định (xung đột trong cùng một vụ án, vụ kiện; một địa bàn). Mặt khác, việc hành nghề của một Luật sư, theo pháp luật hiện hành, có rất nhiều phương thức khác nhau.

Trong thực tế, chúng ta thường nói nôm na là “LS tư vấn” và “LS tố tụng”. Tuy nhiên, theo  Điều 22 Luật Luật sư 2006, phạm vi hành nghề LS theo 05 phương thức cụ thể: Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự; tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật; thực hiện tư vấn pháp luật; đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật; thực hiện dịch vụ pháp lý khác.

Có một thực tế hiện nay, một bộ phận lớn người dân nhận thức rằng, hoạt động của LS là chỉ tiến hành các hoạt động bào chữa cho bị can, bị cáo; bảo vệ quyền lợi cho các đương sự theo tố tụng tại Tòa án mà không nghĩ rằng, hoạt động của LS thông qua rất nhiều phương thức khác như hoạt động tư vấn pháp luật thông qua các tổ chức hành nghề LS; tổ chức trợ giúp pháp lý hoặc tự mình hoạt động tư vấn độc lập.

“Công dân được phép làm nhừng gì mà pháp luật không cấm”. Luật Tổ chức TAND quy định giới hạn đối tượng là LS thì không được bầu làm Hội thẩm trong khi đó, Luật Luật sư không quy định đã là hội thẩm thì không làm LS. Xét về lý luận, hai Luật này chưa đảm bảo tính tương thích; không phù hợp với tình hình thực tiễn. Luật Trợ giúp pháp lý hiện hành quy định việc xã hội hóa hoạt động tư vấn pháp luật; có cơ chế để thu hút các nguồn lực thực hiện tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý; đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ pháp lý, trong đó có dịch vụ pháp lý miễn phí, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn, tránh lãng phí về nguồn lực, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư 2006 theo hướng quy định cho phép đồng thời là HTND và LS. Tuy nhiên, việc cho phép “đồng thời” này chỉ được phép trong một giới hạn về mặt không gian nhất định. Đó là, ngoài việc nghiêm cấm trường hợp đồng thời vừa hoạt động dịch vụ pháp lý vừa thực hiện nhiệm vụ hội thẩm trong cùng một vụ án, vụ kiện, Luật Luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung theo hướng chỉ giới hạn phạm vi hành nghề của LS tại địa phương nơi người đó được bầu làm HTND.

========================================================

ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT DRAGON

Giám đốc - Thạc sĩ Luật sư:  Nguyễn Minh Long Công ty luật chuyên:
Hình sự - Thu hồi nợ - Doanh nghiệp – Đất Đai – Trọng tài thương mại – Hôn nhân và Gia đình.
Trụ sở chính: Phòng 08 tầng 09 toà nhà VINACONEX DIAMOND TOWER, số 459C Bạch Mai, phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội.
Văn phòng luật sư tại Quận Long Biên: Số 22 ngõ 29 Phố Trạm, phường Long Biên, thành phố Hà Nội
Văn phòng luật sư Hải Phòng:  Phòng 5.5 Tòa nhà Khánh Hội, lô 2/3c đường Lê Hồng Phong, phường Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
Điện thoại: 1900 599 979 / 098.301.9109
Email: dragonlawfirm@gmail.com
Hệ thống Website:
www.vanphongluatsu.com.vn
www.congtyluatdragon.com
www.luatsubaochua.vn
www.dragonlaw.vn
#luatsubaochua #luatsutranhtung #luatsuhinhsu #luatsudatdai